BÁO CÁO QUAN TRẮC THÁNG 6 NĂM 2010_RIA3
BÁO CÁO
NHANH TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG VÀ DỊCH BỆNH THUỶ SẢN CÁC VÙNG NUÔI TÔM THUỘC CÁC TỈNH MIỀN TRUNG THÁNG 6 NĂM 2010
I. Tình hình nuôi thủy sản
1. Quảng Ngãi:
- Thu Xà – Nghĩa Hòa – Tư Nghĩa: Vùng nuôi của xã có tổng diện tích 82 ha (thôn Thu Xà 45 ha, Hòa Tân 10 ha, Hòa Phú 27 ha). Đến tháng 6 đã thả nuôi được 43 ha, đã thu hoạch 17 ha đạt năng suất trung bình 4 tấn/ha. Số diện tích còn lại 39 ha đang canh tác các đối tượng thủy sản khác như cá mú, cá rô phi...Diễn biến tình hình bệnh rất phức tạp, bệnh đã xuất hiện trong tháng 3 và tháng 4 với 8,6 ha khi tôm nuôi được trên 1 tháng tuổi, đến tháng 6 tôm nuôi được 70 ngày có hiện tượng dạt bờ và chết rải rác.
- Hàm Long – Nghĩa Hà - Tư nghĩa: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của xã là 44 ha. Đến tháng 6 đã thả nuôi được 24 ha, không tăng so với tháng 5, có 4 ha diện tích nuôi cá mú. Hiện tôm nuôi trong vùng được 70 ngày, tình hình bệnh diễn biến phức tạp, tôm nuôi có biểu hiện nổi đầu, chết rải rác không rõ nguyên nhân.
- Đông Hòa – Tịnh Hòa – Sơn Tịnh: Diện tích nuôi của xã khoảng 97,12 ha trong đó thôn Xuân An 76 ha, Đông Hòa 21,12 ha. Đến tháng 6 đã thả nuôi 24 ha không tăng so với tháng 5, có 73 ha hiện đang canh tác các đối tượng thủy sản khác như cá mú, cá rô phi, cua, ghẹ và ốc hương...Diễn biến tình hình bệnh trong vùng đang diễn ra phức tạp, hiện tôm nuôi trong vùng từ 60 ngày đến 80 ngày và có biểu hiện nổi đầu, rạt bờ và chết không rõ nguyên nhân.
- Mỹ Lại - Tịnh Khê – Sơn Tịnh: Toàn xã có 48 ha trong đó (thôn Mỹ Lại 12 ha, thôn Trường Định 10 ha, thôn Cổ Lũy 26 ha). Đến tháng 6 diện tích thả nuôi kể từ đầu năm là 18 ha, tăng 7,5 ha so với tháng 5. Bệnh xuất hiện vào thời điểm 14/04 trên 6,5 ha khi tôm nuôi được trên 30 ngày với biểu hiện nổi đầu, đỏ thân. Đến tháng 6 có 7,5 ha mới thả nuôi được 30 ngày, tôm phát triển bình thường và chưa có biểu hiện bệnh rõ nét.
- Minh Tân Nam – Đức Minh – Mộ Đức: Diện tích của xã 72,6 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi 32 ha không tăng so với tháng 5, bệnh đã xuất hiện rải rác từ đầu tháng 2 đến nay và gây thiệt hại 18 ha (chiếm 56,3%) với biểu hiện bỏ ăn, dạt vào bờ và chết. Có 28 ha đang canh tác các đối tượng thủy sản khác như cá mú, cua, ghẹ…
- Hải Tân - Phổ Quang – Đức Phổ: Diện tích nuôi trồng thủy sản của xã là 61,3 ha trong đó (vùng nuôi trên cát 34 ha, vùng triều 27,3 ha). Đến tháng 6 diện tích nuôi là 40 ha, hiện tôm đang nuôi được 80 ngày. Bệnh đã gây thiệt hại trên 20 ha nuôi tôm trên cát từ đầu tháng 2 dương lịch với thời gian nuôi từ 10 – 60 ngày. Đến tháng 6 tình hình bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, tôm có hiện tượng nổi đầu liên tục vào buổi tối và chết rải rác.
2. Tỉnh Bình Định:
- Vinh Quang - Phước Sơn - Tuy Phước: Diện tích của xã có 274 ha, tập trung chủ yếu ở thôn Vinh Quang 2 với diện tích 250,7 ha, còn lại 3,7 ha ở thôn Lộc Thượng, thôn Dương Thiện là 19,7 ha. Đến tháng 6 đã thả nuôi được 274 ha không tăng so với tháng 5, đã thu hoạch được 8 ha đạt năng suất trung bình 4,5 tấn/ha. Diễn biến tình hình bệnh không phức tạp so với tháng 5, bệnh đã xuất hiện trên 5,8 ha tôm thẻ (chiếm 0,68%) vào thời điểm 17/04/2010 với biểu hiện đốm trắng và đen mang.
- Đông Điền – Phước Thắng: Tổng diện tích của xã có 54,1 ha trong đó Thôn Đông Điền 29 ha, thôn Lạc Điền 25,1 ha. Đến tháng 6 đã thả nuôi được 53,2 ha (trong đó tôm sú 41,2 ha, tôm thẻ 12 ha), không tăng so với tháng 5, đã thu hoạch 15 ha đạt năng suất trung bình 4 tấn/ha. Diễn biến tình hình bệnh tăng 0,5 ha so với tháng 5, thời điểm xuất hiện bệnh vào 18/06/2010, tôm có biển hiện nổi đầu, đỏ thân.
- Bình Thái – Phước Thuận: Diện tích của xã là 317 ha (vùng trên triều 263 ha, vùng hạ triều 54 ha) thuộc các thôn Bình Thái, Diêm Vân, Nhân Ân và thôn Lộc Hạ, diện tích lớn nhất tại thôn Diêm Vân 117 ha. Đến tháng 6 đã thả nuôi 100% diện tích, chủ yếu thả theo mô hình nuôi quảng canh, diễn biến tình hình bệnh không phức tạp với tháng 5.
- Công Thạnh – Tam Quan Bắc – Hoài Nhơn: Diện tích nuôi thủy sản của xã là 72 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi 30 ha, không tăng so với tháng 5. Diễn biến tình hình bệnh không phức tạp so với tháng 5, bệnh xuất hiện trên 9,6 ha từ đầu tháng 2 khi tôm nuôi được trên 30 ngày với biểu hiện ăn kém, nổi đầu, dạt bờ và chết đáy.
3. Tỉnh Phú yên:
- Phú Lạc - Hòa Hiệp Nam: Diện tích nuôi thủy sản của xã là 430 ha, đến tháng 6 đã thả được 127 ha (tăng 25 ha so với tháng 5). Diễn biến tình hình bệnh rất phức tạp, từ đầu tháng 2 bệnh xuất hiện trên 47 ha khi tôm nuôi được 2 tháng với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ và chết rải rác, đến tháng 6 bệnh xuất hiện trên 5,4 ha khi tôm nuôi được 30 ngày đến 40 ngày với biểu hiện đỏ thân, phân trắng.
- Hòa Hội – Xuân Cảnh: Diện tích nuôi của toàn xã là 130 ha, đến tháng 6 đã nuôi được 23 ha tôm sú và 9 ha tôm thẻ, tăng so với tháng 5 (15,65 ha tôm sú và 7,4 ha tôm thẻ), tôm đang nuôi được trên 60 ngày. Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 3 trên 16,5 ha khi tôm nuôi được 30 ngày trở lên với biểu hiện ăn kém, chậm lớn và thường xuyên nổi đầu.
Với tôm hùm: Đến tháng 6, toàn xã có 174 lồng với 12200 con tôm thương phẩm, không tăng so với tháng 5. Bệnh sữa xuất hiện rải rác, bệnh đen mang xuất hiện nhiều trên tôm có trọng lượng từ 400g trở lên, bệnh đỏ thân và phù cổ xuất hiện ít và tỷ lệ gây chết ít hơn so với bệnh sữa và bệnh đen mang.
- Thạch Khê – Xuân Lộc: Diện tích nuôi của toàn xã là 118 ha, đến tháng 6 đã nuôi được 30 ha, tăng 2 ha so với tháng 5. Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 3 trên 18 ha (chiếm 66,1%) khi tôm nuôi được 30 ngày với biểu hiện dạt bờ và chết rất nhanh. Đặc biệt vào thời điểm giữa tháng 5, thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ dao động trong ngày từ 340 – 360C có thể là nguyên nhân làm cho tôm nuôi dạt vào bờ chết nhanh. Đến tháng 6 tình hình bệnh diễn ra rất phức tạp, tôm mới thả nuôi được 20 ngày có biểu hiện chết rải rác, số đầu con hao nhiều.
- Phú Tân – An Cư: Diện tích nuôi thủy sản của xã là 126,5 ha (thôn Tân Long 78,4 ha, Phú Tân I 48,1 ha). Đến tháng 6 đã nuôi được 113,8 ha, không tăng so với tháng 5, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú. Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 2 trên 102,4 ha (chiếm 90%) khi tôm nuôi được 30 ngày trở lên với biểu hiện nổi đầu, đỏ thân, đốm trắng và dạt bờ chết nhanh. Đến tháng 6 tôm thả nuôi được trên 60 ngày và có biểu hiện chậm lớn, rạt bờ và chết rải rác.
- Phú Mỹ - Xuân Phương: Diện tích nuôi thủy sản của xã là 43,45 ha, đến tháng 6 đã thả được 11,45 ha (tôm sú 2,45 ha, tôm thẻ 9 ha), tăng 0,6 ha so với tháng 5, tôm mới thả nuôi được dưới 50 ngày và chưa có hiện bệnh rõ nét.
Tôm hùm: Đến tháng 6 toàn xã có 1773 lồng nuôi tôm thương phẩm, tôm ương có 138 lồng, không tăng so với tháng 5. Diễn biến bệnh không phức tạp so với tháng 5, bệnh sữa xuất hiện từ đầu năm và gây chết ở tôm ương từ 200g – 600g, bệnh đen mang, bệnh phù cổ xuất hiện nhiều và tỷ lệ gây chết ít hơn so với bệnh sữa. Hiện người nuôi vẫn sử dụng phác đồ điều trị bệnh sữa như đã khuyến cáo (thuốc 20+) nhưng không đem lại hiệu quả.
- Phú Dương – Xuân Thịnh: Đến tháng 6, toàn xã có tổng số 52 bè nuôi tôm thương phẩm với 5330 lồng và 30.000 con tôm ương, không tăng so với tháng 5. Bệnh sữa có giảm so với tháng 5, bệnh đen mang xuất hiện nhiều hơn trên tôm cỡ từ 400g trở lên và tỷ lệ gây chết cao. Trong khi nuôi có dùng thuốc 20+ kết hợp với thuốc bổ và men vi sinh hiệu Max-one của ThaiLan, tuy nhiên hiệu quả đem lại không cao, bệnh sữa có giảm khi sử dụng thuốc nhưng tái phát khi không sử dụng.
- Mỹ Thành – Xuân Thành:: Đến tháng 6, toàn vùng có 157 hộ nuôi tôm hùm với 68 lồng nuôi tôm thương phẩm và 24 lồng nuôi tôm ương, không tăng so với tháng 5 do giá tôm giống quá cao (200.000 đồng/con). Số lồng bè nuôi tôm thương phẩm tăng so với cùng kỳ năm 2009 là 56 lồng. Bệnh xuất hiện chủ yếu trên tôm thương phẩm, bệnh đen mang xuất hiện nhiều, khác với xã Xuận Thịnh bệnh sữa xuất hiện ít nhưng tỷ lệ gây chết cao hơn so với đen mang. Hiện người nuôi vẫn sử dụng biện pháp cho tôm ăn loại thuốc 20+ kết hợp với thuốc bổ, kết quả là bệnh sữa có giảm khi sử dụng thuốc.
4. Tỉnh Khánh hòa:
- Đồng Bò – Nha Trang: Diện tích nuôi trong vùng chuyển sang quy hoạch khu đô thị của thành phố khoảng 70 %, đến tháng 6 diện tích nuôi tôm là 18,5 ha và 5,2 ha đang canh tác các đối tượng thủy sản khác như cua, ghẹ, cá rô phi. Bệnh xuất hiện vào cuối tháng 4 dương lịch trên 1,2 ha khi tôm nuôi được 45 ngày với biểu hiện chết đáy, dạt bờ và chết rải rác. Đến đầu tháng 6 có 12 ha diện tích nuôi tôm tại thôn Phước Thượng, Phước Đồng bị thiệt hại khi tôm nuôi được 40 – 50 ngày, tôm có biểu hiện đỏ thân.
- Ninh Lộc – Ninh Hòa: Diện tích nuôi của xã là 453 ha, đến tháng 6 đã thu hoạch được 300 ha (chiếm 66,2% tổng diện tích thả nuôi vụ 1), năng xuất trung bình 4 tấn/ha. Diễn biến tình hình bệnh không phức tạp so với tháng 5, bệnh xuất hiện rải rác từ đầu tháng 4 trên 35 ha khi tôm nuôi được từ 20 ngày đến 30 ngày với biểu hiện nổi đầu, dạt vào bờ chết rải rác.
Tình hình nuôi vẹm: Đến tháng 6 diện tích vẹm tại Tân Thủy đang phát triển tốt, diễn biến tình hình bệnh trên vẹm không phức tạp so với tháng 5.
- Hòa Diên – Cam Thịnh Đông- Cam Ranh: Diện tích nuôi trồng thủy sản của xã là 230 ha tập trung ở 4 thôn (Mỹ Thành, Hiệp Thanh, Hòa Diêm và Hòn Quy), đến tháng 6 đã thả nuôi 60 ha, không tăng so với tháng 5, diện tích chuyển sang nuôi cá mú, cá chẽm là 120 ha và nuôi ốc hương là 40 ha. Bệnh gây thiệt hại trên 25 ha diện tích nuôi tôm thẻ từ đầu tháng 2 dương lịch khi tôm nuôi được trên 30 ngày với biểu hiện bệnh là chết đáy, nổi đầu vào buổi tối, đỏ thân và đốm trắng. Đến tháng 6 bệnh xuất hiện trên 5,8 ha khi tôm nuôi được 60 ngày với biểu hiện đỏ thân, đốm trắng.
- Tân Phước Đông - Vạn Phước – Vạn Ninh: Diện tích nuôi của xã là 70 ha (thôn Tân Phước Bắc 40 ha, thôn Tân Phước Đông 30 ha), đến tháng 6 đã nuôi được 50 ha, không tăng so với tháng 5. Bệnh xuất hiện vào cuối tháng 2 dương lịch trên 6,2 ha khi tôm nuôi được trên 30 ngày với hiệu bệnh là đỏ thân, bơi gần bờ và chết đáy nhiều không rõ nguyên nhân. Đến tháng 6 có 7,5 ha bị bệnh vào thời điểm 05/06 khi tôm nuôi được 50 ngày với biểu hiện chết đáy, đỏ thân.
Tôm hùm: Đến tháng 6 toàn xã có 162 lồng nuôi với 11.320 con tôm thương phẩm, tôm đang nuôi được từ 3 tháng đến 11 tháng. Bệnh sữa diễn biến phức tạp, xuất hiện trên tôm hùm từ 200 g trở lên, bệnh đen mang xuất hiện nhiều và tỷ lệ gây chết cao hơn so với bệnh sữa, ngoài ra còn xuất hiện bệnh phù cổ và đỏ thân tuy nhiên tỷ lệ gây chết của 2 bệnh này thấp.
- Xuân Đông - Vạn Hưng – Vạn Ninh: Tổng diện tích nuôi thủy sản của xã là 255 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi 34 ha, không tăng so với tháng 5. Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 4 trên 16,5 ha khi tôm nuôi được trên 30 ngày với biểu hiện đốm trắng, đỏ thân và đường ruột (gan). Đến tháng 6 tôm trong vùng thả nuôi được 70 ngày, diễn biến tình hình bệnh không rõ nét.
Tôm hùm: Đến tháng 6 toàn xã có 5.030 lồng nuôi tôm hùm, trong đó có 4000 lồng nuôi tôm thương phẩm và 1030 lồng nuôi tôm ương, không tăng so với tháng 5. Bệnh sữa diễn biến phức tạp, thường xuất hiện trên tôm ương từ 100g đến 200g và gây chết trên tôm thương phẩm từ 400g, bệnh đen mang và phù cổ xuất hiện ít hơn và tỷ lệ gây chết thấp hơn.
- Phú Hữu – Ninh Ích – Ninh Hòa: Tổng diện tích nuôi thủy sản của xã là 265 ha, đến tháng 6 đã thu hoạch được 30% diện tích thả nuôi, còn lại 70% diện tích vẫn đang trong quá trình nuôi, hiện tôm nuôi được 60 ngày. Bệnh xuất từ đầu tháng 2 dương lịch, gây thiệt hại trên 30 ha khi tôm nuôi được từ 20 ngày đến 30 ngày với biểu hiện đốm trắng, tập trung chủ yếu ở Phú Hữu. Đến tháng 6 diễn biến tình hình bệnh không rõ nét, tôm đang phát triển bình thường.
Tình hình nuôi vẹm: Hiện tại diện tích nuôi vẹm đang được nhân rộng, tuy nhiên hiện nay hiện tượng vẹm cỡ 2 -3cm chết rải rác không rõ nguyên nhân đã xuất hiện nhiều trên địa bàn xã Ninh Ích.
- Đầm Môn - Vạn Thạnh: Đến tháng 6, toàn xã có 2650 lồng giảm so với tháng 5 (5500 lồng), tập trung chủ yếu ở các thôn Đầm Môn, Khải Lương, Ninh Tân, Ninh Đảo và Điệp Sơn. Đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm lồng và 15 hộ thả nuôi ốc hương tại thôn Vĩnh Yên. Tôm thương phẩm đạt trọng lượng từ 400 gram trở lên, tôm ương từ 3-4 tháng tuổi, Vùng nuôi đang chịu ảnh hưởng của công trình xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong. Bệnh sữa xuất hiện rải rác, đỏ thân, lột vỏ tự chết, bệnh đen mang và bệnh phù cổ xuất hiện nhiều hơn và tỷ lệ gây chết của 2 bệnh này không cao. Biện pháp phòng trị là dung thuốc 20+ và bổ sung them vitamin C và một số loại thuốc vệ sinh cho tôm như: thuốc tím, formol..
- Vũng Ngán, Nha Trang: Đến tháng 6 toàn vùng có 150 hộ nuôi tôm hùm với 1500 lồng và 120 lồng nuôi cá mú, cá giò, không tăng so với tháng 5. Bệnh sữa trên tôm hùm diễn biến phức tạp, thường xuất hiện trên tôm thương phẩm với kích cỡ từ 300g - 700g, bệnh đen mang và bệnh phù cổ xuất hiện rải rác trên tôm hùm cỡ lớn từ 500g trở lên. Trên cá mú và cá giò nuôi hiện đang có hiện tượng chết rải rác vào thời điểm đầu tháng 5 vừa qua, cá chết có dấu hiệu da nhợt nhạt, có vết đốm đỏ ngoài ra (xuất huyết).
- Xuân Tự - Vạn Hưng - Vạn Ninh: Tổng diện tích nuôi tôm toàn xã là 205 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi 15 ha tôm thẻ, 6,5 ha nuôi ốc hương. Diện tích nuôi tôm bị thu hep, thay vào đó là nuôi ốc hương. Đến tháng 6 bệnh xuất hiện trên 6 ha nuôi tôm thẻ khi tôm nuôi được từ 20 – 60 ngày với biểu hiện ăn kém và chết rải rác.
Tôm hùm: Toàn xã có 1600 lồng nuôi tôm thương phẩm và 450 lồng tôm ương. Tôm thương phẩm đang nuôi được từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tôm ương từ 2 – 4 tháng tuổi. Bệnh sữa diễn biến phức tạp hơn so với tháng 5, thường xuất hiện trên tôm ương từ 3 tháng tuổi và trên tôm thương phẩm từ 400g, bệnh đen mang và phù đầu đang xuất hiện nhiều, tuy nhiên tỷ lệ gây chết thấp.
5. Tỉnh Ninh Thuận:
- Phước Dinh - Ninh Phước: Tổng diện tích nuôi toàn xã là 390 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi được 241,1 ha (tăng 40 ha so với tháng 5), đã thu hoạch được 140 ha, năng suất trung bình đạt 18 – 20 tấn/ha (do mật độ thả dầy 150 – 200 con/m2). Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 3 trên 90 ha khi tôm nuôi được 30 ngày trở lên với biểu hiện dạt bờ chết nhanh, đến giữa tháng 6 bệnh xuất hiện trên 4,9 ha khi tôm nuôi được 80 ngày với biểu hiện đỏ thân, đốm trắng và đục thân.
- Hòa Thạnh – An Hải: Diện tích nuôi của xã là 195 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi 80 ha, tăng 30 ha so với tháng 5. Bệnh xuất hiện trên 40 ha từ đầu tháng 3 khi tôm nuôi được trên 30 ngày với biểu hiện dạt bờ chết nhanh (vào thời điểm tháng 5, do thời tiết quá nóng kéo dài, nhiệt độ dao động từ 330 – 350C có thể là nguyên nhân gây tôm chết). Đến tháng 6 tôm nuôi trong vùng phát triển bình thường, diễn biến tình hình bệnh không rõ nét.
- Thủy Lợi – Tân Hải – Ninh Hải: Diện tích nuôi tôm của xã là 290 ha, đến tháng 6 đã thả nuôi được 122 ha, tăng 54 ha so với tháng 5. Bệnh xuất hiện trên 24 ha (chiếm 19,6%) vào cuối tháng 3 và 5 ha xuất hiện vào đầu tháng 5 khi tôm nuôi được 30 ngày với biểu hiện nổi đầu và chết đáy, đỏ thân.
II. Kết quả quan trắc cảnh báo môi trường và dịch bệnh
1. Tỉnh Quảng Ngãi:
Vùng Thu Xà- Nghĩa Hòa: 15.05.955 N - 108.53.971E
- Trầm tích thủy vực diễn biến tăng ô nhiễm so với tháng 5 (pH: 5,4, CHC: 3,29%, NCSDO:0,135 gO2/kg/ngày, Sulfur: 2,427mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi mặc dù các thông số thủy lý thủy hóa còn nằm trong giới hạn cho phép. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao tôm nhiễm bệnh và gây thiệt hại trên 30%.
- Chất lượng nước ao nuôi sau 1,5 tháng đang suy giảm ô xy hòa tan.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ tiếp tục tăng trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 25- 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
Vùng Hàm Long- Nghĩa Hà: 15.07.405 N - 108.52.827 E
- Các thông số chất lượng nước còn nằm trong giới hạn cho phép tuy nhiên diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực đang gia tăng (pH:5,2, CHC:2,0%, NCSDO: 0,093gO2/kg/ngày, Sulfur: 2,549 mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao tôm nhiễm gây thiệt hại trên 30%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ còn ảnh hưởng trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
Vùng Đông Hòa- Tịnh Hòa: 15.1.654 N - 108.53.786 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm nhẹ so với tháng 5 (pH:6,1, CHC:1,95%, NCSDO: 0,091gO2/kg/ngày, Sulfur: 0,655 mg%), tuy nhiên chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi mặc dù các thông số chất lượng nước còn nằm trong giới hạn cho phép. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao tôm nhiễm bệnh dưới 10% và 25% ao tôm nhiễm bệnh từ 20- 30%. Biểu hiện tôm nuôi nổi đầu, dạt bờ và đỏ thân.
- Chất lượng nước ao nuôi có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ và nguy cơ thiếu oxy từ sau 1,5 tháng nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ tăng nhẹ trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 50% ao nuôi nhiễm bệnh từ 20-30%.
Vùng Mỹ Lại- Tịnh Khê: 15.10.810 N - 108.53.439 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực tăng so với tháng 5 (pH:5,8, CHC:2,75%, NCSDO:0,066 gO2/kg/ngày, Sulfur: 2,271mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi và có thể xuất hiện khoảng 25% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
- Chất lượng nước ao nuôi khoảng 1 tháng chưa ảnh hưởng đến tôm nuôi tuy nhiên diễn biến ô nhiễm chất hữu cơ dinh dưỡng đang có xu hướng gia tăng và có thể bị ảnh hưởng từ sau 1, tháng nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ tăng nhẹ trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
Vùng Minh Tân Nam- Đức Minh: 14 .52.078 N - 108.53.819 E
Oxy hòa tan trong ao nuôi đang suy giảm và có ảnh hưởng đến tôm nuôi. Những ao nuôi từ sau 1,5 tháng có thể gia tăng ammonia, nguy cơ tôm nhiễm bệnh khi có biến động môi trường hoặc thời tiết. Có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 20-30%. Tình hình bệnh có thể còn gia tăng trong tháng 7 và tháng 8.
Vùng Hải Tân- Phổ Quang: 14.49.878 N - 108.59.554 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực tăng mạnh trong tháng 6 so với tháng 5 (pH:5,6, CHC:6,88%, NCSDO:0,111 gO2/kg/ngày, Sulfur: 2,512 mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi và có thể xuất hiện trên 50% ao tôm trong vùng nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ, đỏ thân.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
2. Tỉnh Bình Định:
Vùng Vinh Quang- Phước Sơn: 13.51.632 N - 109.13.648 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích tăng nhẹ so với tháng 5 (pH: 6,0, CHC:2,05%, NCSDO:0,055 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,527mg%), chất lượng nước có thể cấp cho vùng nuôi tuy nhiên có thể xuất hiện khoảng 50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại dưới 10% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ.
- Chất lượng nước ao nuôi dưới 1 tháng chưa ảnh hưởng đến tôm nuôi tuy nhiên diễn biến ô nhiễm có thể tăng từ sau 1,5 tháng trong đó ammonia, BOD, COD se gia tăng và oxy hòa tan thấp.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ không biến động mạnh trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 25- 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Vùng Đông Điền- Phước Thắng: 13.54.692 N - 109.14.00 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích tăng nhẹ so với tháng 5 (pH:5,9, CHC:4,17%, NCSDO:0,062 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,853mg%), trầm tích thủy vực đang ô nhiễm và ảnh hưởng đến chất lượng nước. Nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện trên 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%, nguy cơ xuất hiện bệnh cao trên những ao nuôi có nền đáy vệ sinh chưa tốt.
- Tôm trong ao nuôi có nguy cơ nhiễm độc ammonia và xu thế có thể gia tăng trong cuối vụ nuôi, nguy cơ tôm nhiễm bệnh khi có biến động môi trường hoặc thời tiết.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ có biến động mạnh trong tháng 7,8 và có thể xuất hiện khoảng 25- 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 20-30%.
Vùng Bình Thái- Phước Thuận: 13 .49.859 N - 109.12.718 E
- Ô nhiễm trầm tích không biến động so với tháng 5 tuy nhiên trầm tích đang ô nhiễm nhẹ (pH: 6,0, CHC:1,21%, NCSDO:0,120 gO2/kg/ngày, Sulfur:1,320mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi mặc dù các thông số thủy lý, thủy hóa còn nằm trong giới hạn cho phép. Có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 20-30%. Tôm nuôi có biểu hiện nổi đầu, dạt bờ.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ biến động tăng nhẹ trong tháng 7,8 và bệnh tôm có thể gia tăng.
Vùng Công Thạnh- Tam Quan Bắc: 14.34.727 N - 109.04.110 E
- Trầm tích thủy vực đang ô nhiễm và giảm nhẹ so với tháng 5 (pH: 5,8, CHC:1,81%, NCSDO:0,135 gO2/kg/ngày, Sulfur:1,884mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi mặc dù các thông số chất lượng nước còn nằm trong ngưỡng cho phép. Có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%. Tôm nuôi có biểu hiện nổi đầu, dạt bờ.
- Tôm trong ao nuôi có nguy cơ nhiễm độc ammonia và xu thế có thể gia tăng trong cuối vụ nuôi, nguy cơ tôm nhiễm bệnh khi có biến động môi trường hoặc thời tiết.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể giảm nhẹ trong tháng 7,8 và tình hình bệnh tôm có thể giảm.
3. Tỉnh Phú Yên:
Vùng Phú Lạc- Hòa Hiệp Nam: 12.57.045 N 109.24.782 E
- Trầm tích thủy vực chưa ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp vào vùng nuôi, diễn biến ô nhiễm giảm so với tháng 5 (pH:6,5, CHC:1,98%, NCSDO:0,050 gO2/kg/ngày, Sulfur 0,148mg%), tuy nhiên chất lượng nước một số ao nuôi đang thiếu oxy . Có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 20-30% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ, phân trắng, một số xuất hiện đỏ thân.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể không biến động lớn trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm cũng diễn ra không phức tạp.
Vùng Xuân Cảnh- Sông cầu (tôm sú, thẻ): 13.32.404 N 109.15.202 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực không lớn so với tháng 5 (pH:6,4, CHC:3,96%, NCSDO:0,048 gO2/kg/ngày, Sulfur 0,864mg%), tuy nhiên chất lượng vẫn chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ, một số xuất hiện đỏ thân và phân trắng.
- Chất lượng nước ao nuôi có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ và nguy cơ thiếu oxy từ sau 1,5 tháng nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ không biến động mạnh trong tháng 7 và tháng 8 và tình hình bệnh tôm có thể diễn ra không phức tạp trong vùng nuôi.
Vùng Thạch Khê- Xuân Lộc: 13.37.070 N 109.11.57 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm so với tháng 5 (pH:6,4, CHC:2,56%, NCSDO:0,058 gO2/kg/ngày, Sulfur 0,398mg%) tuy nhiên chất lượng nước vẫn chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại dưới 10% trong đó nguyên nhân chính có thể do thiếu oxy hòa tan.
- Chất lượng nước ao nuôi có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ và nguy cơ thiếu oxy từ sau 1,5 tháng nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ không biến động mạnh trong tháng 7 và tháng 8. Trong tháng 8 có thể tăng nhẹ sự ô nhiễm.
Vùng Phú Tân- An Cư: 13.17.186 - N 109.15.356 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực không tăng so với tháng 5 (pH:6,4, CHC:3,70%, NCSDO:0,101 gO2/kg/ngày, Sulfur 1,256mg%), tuy nhiên chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện từ 25- 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ, đỏ thân và một số phân trắng.
- Chất lượng nước ao nuôi có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ và nguy cơ thiếu oxy từ sau 1,5 tháng nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng trong tháng 7,8 và tình hình bệnh tôm có thể diễn ra khá phức tạp trong vùng nuôi.
Vùng tôm hùm Mỹ Thành- Xuân Thành: 13.25.252 N - 109.13.935 E
Diễn biến ô nhiễm trầm tích vùng nuôi không tăng so với tháng 5 và còn ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi. Có thể xuất hiện từ 25-50% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%, các loại bệnh thường gặp gồm đen mang, đỏ thân, trắng sữa.
Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng nhẹ trong tháng 7,8 và bệnh tôm có thể diễn ra phức tạp trong tháng 8.
Vùng tôm hùm Phú Mỹ- Xuân Phương: 13.27.219 N - 109.16.024 E
Diễn biến ô nhiễm trầm tích vùng nuôi giảm nhẹ so với tháng 5,6 tuy nhiên chất lượng nước vẫn còn ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi. Có thể xuất hiện từ 25-50% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 20-30%.
Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể tăng trong tháng 7 và giảm trong tháng 8.
Vùng tôm hùm Phú Dương- Xuân Thịnh: 13.31.351 N - 109.15.774 E
Diễn biến ô nhiễm trầm tích không tăng so với tháng 5,6. Chất lượng nước vẫn còn ảnh hưởng bất lợi đến tôm hùm nuôi. Có thể xuất hiện 50% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10- 20%.
Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng trong tháng 8 và tình tình bệnh tôm cũng tăng trong tháng 8 với các loại bệnh đã từng xảy ra như sữa, đen mang, đỏ thân.
Vùng tôm hùm Hòa Mỹ- Xuân Cảnh: 13.31.418 N - 109.15.774 E
Diễn biến ô nhiễm trầm tích vùng nuôi không tăng so với tháng 5,6 và còn ảnh hưởng đến tôm nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 50% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10- 20% với các biểu hiện đen mang, đỏ thân, trắng sữa.
Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường sẽ không biến động mạnh trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm có thể không phức tạp.
4. Tỉnh Khánh Hòa:
Bình Tân-Phước Đồng : 12.12.289 N 109.11.173 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực tăng so với tháng 5 (pH:6,1, CHC:8,38%, NCSDO:0,083 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,875mg%), chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
- Chất lượng nước ao nuôi ô nhiễm ammonia, phosphate và có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ từ sau 1,5 tháng, nguy cơ ao thiếu oxy trong ao nuôi.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng kéo dài đến tháng 8 và tình hình bệnh tôm có thể xuất hiện từ 25- 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
Tân Thành- Ninh Ích-Ninh Hòa: 12.22.806 N 109.11.980 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm đáng kể so với tháng 5 (pH:6,4, CHC:0,65%, NCSDO:0,021 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,058 mg%), chất lượng nước có thể cấp cho vùng nuôi. Tình hình bệnh tôm trong vùng có thể diễn ra không phức tạp.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể tăng nhẹ trong tháng 8 và có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Xuân Đông- Vạn Hưng-Vạn Ninh: 12.36.042 N 109.12.171 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực không biến động mạnh so với tháng 5 ( pH: 6,2, CHC: 1,60%, NCSDO: 0,041 gO2/kg/ngày, Sulfur trầm tích : 0,800mg%), trầm tích chưa ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước cấp cho vùng nuôi, tuy nhiên nguồn nước bị ảnh hưởng của chất hữu cơ dinh dưỡng từ vùng nuôi gây suy giảm lượng ô oxy hòa tan (0xy hòa tan=3,35mg/l). Có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại dưới 10%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể tăng nhẹ trong tháng 8 và có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Tân Thủy-Ninh Lộc-Ninh Hòa: 12.25.555 N 109.08.431 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm nhẹ so với tháng 5 (pH: 6,0, CHC: 6,22%, NCSDO: 0,066 gO2/kg/ngày, Sulfur: 0,769mg%) tuy nhiên hiện trạng môi trường vẫn đang ô nhiễm và chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 25% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30%.
- Các ao nuôi từ sau 1,5 tháng có nguy cơ thiếu oxy do ảnh hưởng của chất hữu cơ dinh dưỡng.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể không biến động lớn trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm diễn ra không phức tạp.
Phú Hữu- Ninh Ích- Ninh Hòa: 12.24.690 N 109.9.528 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực tăng đáng kể so với tháng 5 ( pH: 5,5, CHC: 5,38%, NCSDO: 0,088 gO2/kg/ngày, Sulfur: 0,890mg%), trầm tích ảnh hưởng mạnh đến chất lượng nước trong đó là sự suy giảm nghiêm trọng lượng oxy hòa tan (Oxy hòa tan= 2,86mg/l) và chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Nước khi cấp vào vùng nuôi có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại trên 30% và 50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng đến tháng 8 và có thể xuất hiện khoảng 25-50% ao nuôi nhiễm bệnh từ 10-20%.
Hòa Diên-Cam Thịnh Đông- Cam Ranh: 12.52.256 N 109.07.030 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm so với tháng 5 (pH: 6,4,CHC: 1,27%, NCSDO: 0,051 gO2/kg/ngày, Sulfur: 1,140mg%) chất lượng nước có thể cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại dưới 10%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng nhẹ trong tháng 8 và có thể xuất hiện 25-50% ao tôm nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Tân Phước Đông-Vạn Phước-Vạn Ninh: 12.47.205 N 109.19.753 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực tăng nhẹ so với tháng 5 ( pH: 6,6, CHC : 1,33%, NCSDO : 0,064 gO2/kg/ngày, Sulfur : 1,087mg%) , trầm tích thủy vực chưa ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước và có thể cấp cho vùng nuôi. Nước khi cấp vào vùng nuôi có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh từ 10-20%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể tăng nhẹ trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm diễn ra không phức tạp.
Đầm Môn-Vạn Thạnh-Vạn Ninh (tôm hùm) 12.40.073 N 109.24.239 E
- Trầm tích vùng tôm hùm đang ô nhiễm (pH:6,4, CHC:4,12%, NCSDO:0,066 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,633 mg%) và có ảnh hưởng đến chất lượng nước nuôi tôm hùm. Có thể xuất hiện trên 50% lồng nhiễm bệnh từ 10-20%. Các lồng nuôi có nguy cơ thiếu oxy hòa tan do ảnh hưởng của nền đáy
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng nhẹ trong tháng 8 và bệnh tôm hùm có thể gia tăng với các biểu hiện thường gặp như đen mang, phù cổ, trắng sữa.
Xuân Tự-Vạn Hưng-Vạn Ninh (tôm hùm): 12.38.183 N 109.12.884 E
- Trầm tích vùng nuôi tôm hùm ô nhiễm nhẹ và giảm so với tháng 5 (pH:6,6, CHC:1,88%, NCSDO:0,058 gO2/kg/ngày, Sulfur:0,281 mg%), trầm tích ảnh hưởng không lớn đến chất lượng nước. Tình hình bệnh tôm trong vùng nuôi có thể diễn ra không phức tạp.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể không biến động lớn trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm cũng diễn ra không phức tạp.
Vũng Ngán-Vĩnh Nguyên (tôm hùm): 12.11.184 N 109.16.338 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích vùng nuôi tôm hùm tăng so với tháng 5 (pH :6,4, CHC:4,08%, Sulfur:0,850 mg%), trầm tích ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng nuôi, có thể xuất hiện khoảng 25% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường còn kéo dài trong tháng 8 và có thể xuất hiện khoảng từ 25-50% lồng nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Tân Đảo- Đầm Nha Phu (vẹm): 12.24.330N 109.10.964 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích vùng nuôi vẹm giảm không đáng kể so với tháng 5 (pH:6,3, CHC: 4,08%, NCSDO: 0,068 gO2/kg/ngày, Sulfur trầm tích : 0,466 mg%), tuy nhiên trầm tích vẫn có ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng nuôi vẹm. Vẹm có thể chết rãi rác trên vùng nuôi. Tình hình môi trường vùng nuôi vẹm có thể có biến động vào thời điểm từ 18-21/7/2010 và 3/8-7/8/2010.
5. Tỉnh Ninh Thuận:
Vùng Từ Thiện- Phước Dinh: 11.27.984 N 109.00.848 E
- Chất lượng nước ngầm chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi do hàm lượng oxy thấp. Chất lượng nước ao nuôi chưa ảnh hưởng đến tôm nuôi, có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20% với biểu hiện có thể gặp gồm nổi đầu, dạt bờ, một số đỏ thân.
- Chất lượng nước ao nuôi có thể diễn biến tăng ô nhiễm chất dinh dưỡng hữu cơ, ammonia và nguy cơ thiếu oxy từ sau 1,5 tháng nuôi.
Vùng Hòa Thạnh- An Hải: 11.31.693 N - 109.01.030 E
- Chất lượng nước ngầm chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi do hàm lượng oxy thấp. Một số ao nuôi ô nhiễm chất hữu cơ dinh dưỡng từ sau 1 tháng nuôi, nguy cơ nhiễm độc ammonia và tôm nuôi có thể nhiễm bệnh. Có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi trong vùng nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20% với các biểu hiện gồm nổi đầu, dạt bờ, một số đỏ thân. Tôm nuôi đang nhiễm MBV và hội chứng tổn thương gan.
Vùng Thủy Lợi- Tân Hải: 11.37.960 N - 109.01.361 E
- Diễn biến ô nhiễm trầm tích thủy vực giảm nhẹ so với tháng 5 (pH:6,2, CHC:2,84%, NCSDO:0,048 gO2/kg/ngày, Sulfur 0,790mg%), tuy nhiên chất lượng nước có thể chưa đảm bảo cấp cho vùng nuôi. Có thể xuất hiện khoảng 50% ao nuôi nhiễm bệnh gây thiệt hại dưới 10% với biểu hiện nổi đầu, dạt bờ, đỏ thân.
- Chất lượng nước ao nuôi có xu thế gia tăng ammonia, phosphate và giảm oxy hòa tan từ sau 1,5 tháng; trong đó ammonia có nguy cơ gây độc cho tôm.
- Dự báo tình hình ô nhiễm môi trường có thể biến động tăng trong tháng 8 và tình hình bệnh tôm có thể gia tăng. Có thể xuất hiện khoảng 25% ao nuôi trong vùng nhiễm bệnh gây thiệt hại từ 10-20%.
Ao nuôi các vùng từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có nguy cơ suy giảm oxy hòa tan, tảo trong ao nuôi nhiều biến động và tôm có nguy cơ xuất hiện bệnh trong thời điểm từ 18-21/7/2010 và 3/8-7/8/2010.
II. Đề xuất giải pháp
- Cải tạo ao: Các ao nuôi cần cải tạo nền đáy để giảm nhu cầu sử dụng oxy nền đáy. Cải tạo bằng vôi và chế phẩm sinh học, không nên sử dụng clorin hoặc thuốc tím.
- Lấy nước: Chất lượng nước tại các điểm chưa đảm bảo cấp cho các vùng nuôi do đó cần xử lý bằng chế phẩm sinh học, nước cấp vào ao cần sục khí trước khi thả tôm để bảo đảm lượng oxy hòa tan.
- Con giống: chọn con giống có chất lượng tốt
- Quản lý ao nuôi: Chất lượng môi trường ao nuôi biến đổi sau 1 tháng nuôi và có xu hướng tăng mạnh chất hữu cơ dinh dưỡng trong giai đoạn 1,5 đến 2 tháng, tôm có nguy cơ cao về thiếu oxy do đó cần tăng cường sục khí, giám sát tảo trong ao nuôi, dùng chế phẩm sinh học định kỳ với liều dùng thấp và thực hiện nhiều lần. Ao nuôi sau 1 tháng bắt đầu tăng mạnh hàm lượng ammonia trong ao do đó cần sử dụng zeolite để hấp phụ. Tốt nhất nên thả mật độ thích hợp để giảm các yếu tố gây ô nhiễm môi trường.
- Vấn đề oxy hòa tan: Các ao nuôi từ sau 1-1,5 tháng thường thiếu oxy do ô nhiễm chất dinh dưỡng, tảo phát triển mạnh và tà lụi, nguy cơ nhiễm độc ammonia do đó cần có giải pháp ổn định tảo trong ao nuôi (tảo tàn có thể dùng bột đá vôi, dolomite, oxy già liều thấp từ 1-2ppm), dùng chế phẩm sinh học nhiều lần với liều thấp trong 1 đợt xử lý để giảm khả năng sản sinh ammonia đột ngột, sau đó có thể sử dụng zeolite hấp phụ ammonia.
- Về bệnh tôm: Bệnh thường xuất hiện từ sau 1 tháng nuôi khi môi trường bắt đầu biến động ô nhiễm, biến động này tăng khi có sự thay đổi thời tiết do đó cần theo dõi các bản tin dự báo thời tiết. Không kỳ vọng về sử dụng thuốc để điều trị bệnh tôm, tốt nhất quản lý ao nuôi trong suốt quá trình nuôi. Trong năm 2010; do ảnh hưởng của elnino, thời tiết nắng nóng kéo dài tôm nuôi thường xuất hiện bệnh phân trắng. Giải pháp tốt nhất đối với bệnh phân trắng là thay nước hoặc dùng một số dược thảo như lá ổi trộn vào thức ăn để cho tôm ăn.
Với vùng nuôi tôm hùm:
- Giải pháp tốt nhất là thả mật độ thưa để giảm sức tải môi trường, thường xuyên giám sát chất đáy vùng nuôi để có biện pháp di chuyển bè nuôi.
- Nên sử dụng phát đồ điều trị mà chương trình chống dịch tôm hùm đề ra, không nên sử dụng các loại kháng sinh mạnh và cấm sử dụng.
- Do môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp; nếu có thể thì sử dụng máy sục khí tăng cường vào bè/lồng nuôi.
III. Kết luận và kiến nghị:
Kết luận:
- Tình hình ô nhiễm môi trường các vùng nuôi từ Quảng Ngãi đến Ninh Thuận trong tháng 6 biến động không lớn so với tháng 5, tuy nhiên hầu hết các vùng nuôi vẫn còn thể hiện ô nhiễm và chất lượng nước chưa đảm bảo cấp cho các vùng nuôi. Ô nhiễm môi trường trên các vùng nuôi trong tháng 6/2010 giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
- Môi trường các vùng nuôi tôm hùm vẫn còn ô nhiễm và ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi. So với cùng kỳ năm ngoái thì sự ô nhiễm biến động giảm nhẹ.
- Môi trường các ao nuôi thường biến động từ sau 1,5 tháng trong đó biến động mạnh ammonia, chất hữu cơ và lượng oxy hòa tan thấp.
- Tình hình dịch bệnh tên tôm sú, thẻ diễn biến không phức tạp so với tháng 5 và giảm đáng kể so với những tháng đầu năm trên hầu hết các vùng nuôi. So với cùng kỳ năm ngoái thì tình hình bệnh tôm giảm.
- Bệnh trên tôm hùm vẫn tiếp tục xuất hiện nhưng giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
Kiến nghị:
- Các vùng nuôi nội đồng (tôm sú, tôm thẻ) có thời gian sử dụng ao đìa khá lâu và chất hữu cơ tích lũy trên nền đáy ao lớn thì không nên tiến hành nuôi thâm canh, tùy theo mức độ ô nhiễm mà chọn hình thức nuôi quảng canh hoặc nuôi bán thâm canh. Đối với vùng nuôi tôm thẻ mặc dù đã cách ly với nền đáy ao nhưng chất thải từ nuôi tôm thẻ đã tác động vào nguồn nước bên ngoài và có thể ảnh hưởng đến vụ nuôi sau.
- Bệnh tôm hùm vẫn còn tiếp tục xảy ra trên các vùng nuôi Phú Yên và Khánh Hòa mặc dù không gây thiệt hại lớn như năm 2007 nhưng môi trường vẫn còn ô nhiễm; do đó cần giám sát mật độ nuôi và lượng thức ăn. Theo nguồn tin từ người dân thì hiện trạng lạm dụng thuốc kháng sinh mạnh đang phổ biến ở những hộ nuôi tôm hùm; đây là mối nguy có ảnh hưởng đến sự kháng thuốc và chất lượng sản phẩm tôm hùm nuôi, cần có sự quản lý giám sát chặt chẽ của các cơ quan có chức năng.
- Kiến nghị các cơ quan quản lý nuôi trồng Thủy sản địa phương có giải pháp chỉ đạo người nuôi và chuyển thông tin đến người dân để giảm thiểu thiệt hại.
Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi trường & phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miền Trung